☾ Tử Vi · MệnhKO VI EN

Từ điển thuật ngữ Tử Vi, Bát Tự và ngũ hành

Khi xem lá số Tử Vi, Bát Tự hay mệnh nạp âm, bạn sẽ gặp rất nhiều thuật ngữ Hán Việt như can chi, cục, tứ hóa hay vô chính diệu. Từ điển này gom 42 thuật ngữ thường gặp trên trang, sắp theo thứ tự: kiến thức nền, Bát Tự, mệnh nạp âm, Tử Vi, hợp tuổi và vận ngày. Mỗi mục giải thích nghĩa gốc theo cách hiểu truyền thống, kèm cách trang dùng thuật ngữ đó khi tính toán.

Thiên can

Mười chữ Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Cứ hai can thuộc một hành theo thứ tự Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy; can đứng trước là dương, can đứng sau là âm. Năm, tháng, ngày, giờ đều mang một thiên can. Các cặp Giáp–Kỷ, Ất–Canh, Bính–Tân, Đinh–Nhâm, Mậu–Quý gọi là thiên can hợp, và trang cộng điểm cho cặp này khi xem hợp tuổi.

Địa chi

Mười hai chữ Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, ứng với mười hai con giáp. Người Việt xem Sửu là con trâu và Mão là con mèo, trong khi Trung Quốc và Hàn Quốc dùng con bò và con thỏ. Địa chi còn dùng để chỉ tháng, phương hướng và 12 canh giờ trong ngày. Tam hợp, lục hợp, xung hay hại khi xem tuổi đều là quan hệ giữa các địa chi.

Can chi (Lục thập hoa giáp)

Ghép một thiên can với một địa chi được một cặp can chi, như Giáp Tý hay Ất Sửu. Mười can và mười hai chi cùng chạy song song, đến cặp thứ 60 là Quý Hợi thì quay về Giáp Tý, nên vòng này gọi là lục thập hoa giáp. Năm, tháng, ngày, giờ đều được ghi liên tục bằng vòng 60 can chi. Vì vậy phải 60 năm mới có một năm trùng đúng can chi năm sinh của bạn.

Âm lịch

Lịch tính tháng theo chu kỳ trăng tròn trăng khuyết, ngày mùng một là ngày sóc, khi không nhìn thấy trăng. Thực ra âm lịch phương Đông là âm dương lịch, vẫn bám theo tiết khí của mặt trời, nên vài năm lại có một tháng nhuận để khỏi lệch mùa. Trang tính âm lịch theo múi giờ của nước nơi bạn sinh (Việt Nam UTC+7, Trung Quốc +8, Hàn Quốc và Nhật Bản +9), vì thế ngày Tết hay mùng một có thể lệch nhau một ngày giữa các nước. Nếu sinh vào tháng nhuận, bạn có thể chọn một trong hai cách tính tháng cho lá số.

Tiết khí

Hai mươi bốn mốc chia đường đi của mặt trời trên hoàng đạo, mỗi mốc cách nhau 15 độ, như Lập Xuân, Vũ Thủy, Kinh Trập. Trong đó có 12 "tiết" mở đầu mỗi tháng, và Bát Tự dùng chính các tiết này để chia tháng chứ không dùng ngày mùng một âm lịch. Vì thế trụ tháng đổi đúng vào lúc giao tiết. Trang xác định trụ tháng theo vị trí mặt trời tại thời điểm bạn chào đời.

Lập Xuân

Tiết khí đầu tiên trong năm, khi mặt trời đến hoàng kinh 315 độ, rơi vào khoảng ngày 4 tháng 2 dương lịch. Bát Tự lấy Lập Xuân làm mốc đầu năm, nên trụ năm đổi vào ngày này. Còn con giáp và mệnh nạp âm lại đổi vào ngày Tết, nên người sinh giữa Tết và Lập Xuân có thể thấy trụ năm và tuổi thuộc hai năm khác nhau. Cả hai đều đúng, vì mỗi hệ thống dùng một mốc riêng.

Giờ sinh (12 canh giờ)

Một ngày chia thành 12 canh giờ, mỗi giờ dài hai tiếng và mang tên một địa chi, từ giờ Tý đến giờ Hợi. Giờ Tý kéo dài từ 23h đến 1h sáng, nên khi lập trụ ngày và lá số, trang tính người sinh sau 23h là giờ Tý của ngày hôm sau. Trước khi xác định canh giờ, trang còn đổi giờ đồng hồ sang giờ mặt trời trung bình theo múi giờ, giờ mùa hè (nếu có) và kinh độ thủ đô của nước nơi sinh. Nếu bạn sinh sát ranh giới hai canh giờ, hãy xem lại giờ hiển thị trong kết quả.

Ngũ hành

Năm hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là nền tảng của hầu hết các môn luận đoán phương Đông. Thiên can, địa chi, nạp âm và các sao đều được quy về một hành, rồi xét xem chúng sinh hay khắc nhau. Ngũ hành không hẳn là vật chất mà là năm kiểu vận động: vươn lên, bùng tỏa, ổn định, thu lại và lắng xuống. Phần vận may hôm nay trên trang lấy quan hệ giữa hành nạp âm của ngày và hành mệnh của bạn làm điểm gốc.

Tương sinh, tương khắc

Tương sinh là vòng nuôi dưỡng: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc. Tương khắc là vòng chế ngự: Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc. Khắc không hẳn là xấu, vì khắc vừa phải giúp kìm bớt phần thái quá. Trên trang, ngày có hành sinh cho mệnh của bạn được điểm cao nhất, còn ngày có hành khắc mệnh của bạn được điểm thấp nhất.

Âm dương

Quan niệm chia mọi sự vật thành hai mặt đối đãi: dương là sáng, động, hướng ra ngoài; âm là tối, tĩnh, hướng vào trong. Các can Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là dương, còn Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là âm; các chi Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất là dương, sáu chi còn lại là âm. Trong Tử Vi, âm dương của can năm sinh kết hợp với giới tính quyết định đại hạn đi thuận hay đi nghịch. Trong Bát Tự, cùng hay khác âm dương với nhật chủ sẽ tách mỗi nhóm thập thần làm hai.

Tứ trụ, Bát tự

Tứ trụ là bốn cột năm, tháng, ngày, giờ sinh, mỗi cột là một cặp can chi. Bốn cột có tám chữ nên còn gọi là Bát tự; người Hàn gọi là saju palja. Luận Bát Tự chủ yếu là xem tám chữ này cân bằng ngũ hành ra sao. Nếu bạn không nhập giờ sinh, trang chỉ hiện ba trụ năm, tháng, ngày.

Nhật chủ (Nhật can)

Là thiên can của trụ ngày, đại diện cho chính bạn trong lá số Bát Tự. Bảy chữ còn lại đều được luận theo quan hệ với nhật chủ; chẳng hạn nhật chủ Giáp được ví như cây đại thụ thuộc hành Mộc. Vì vậy hai người cùng năm sinh nhưng khác ngày sinh có thể có Bát Tự rất khác nhau. Trang lấy hành của nhật chủ làm gốc để tính thân vượng, thân nhược và thập thần.

Thân vượng, thân nhược

Cho biết nhật chủ được nâng đỡ nhiều hay ít trong tứ trụ. Có nhiều chữ cùng hành (Tỷ Kiếp) hoặc sinh cho nhật chủ (Ấn) thì là thân vượng, ít thì là thân nhược. Cách luận truyền thống còn xét mùa sinh (nguyệt lệnh) và các can tàng trong địa chi, nên mỗi trường phái có thể kết luận khác nhau. Trang dùng cách đơn giản: trong các chữ ngoài nhật chủ, nếu chữ nâng đỡ chiếm từ một nửa trở lên thì là thân vượng, và địa chi tháng sinh được tính hai lần.

Thập thần

Mười tên gọi cho quan hệ giữa nhật chủ và các chữ khác, gom thành năm nhóm. Cùng hành là Tỷ Kiếp (Tỷ Kiên, Kiếp Tài); hành mình sinh ra là Thực Thương (Thực Thần, Thương Quan); hành mình khắc là Tài (Thiên Tài, Chính Tài); hành khắc mình là Quan Sát (Thất Sát, Chính Quan); hành sinh ra mình là Ấn (Thiên Ấn, Chính Ấn). Trong mỗi nhóm, chữ cùng âm dương với nhật chủ là Tỷ Kiên, Thực Thần, Thiên Tài, Thất Sát, Thiên Ấn, còn khác âm dương là Kiếp Tài, Thương Quan, Chính Tài, Chính Quan, Chính Ấn. Trang chỉ đếm theo năm nhóm, không tách âm dương, để cho thấy năng lượng nổi bật nhất và nhóm đang thiếu.

Dụng thần

Hành giúp tứ trụ cân bằng nhất, nói nôm na là "vị thuốc" hợp với bạn. Nguyên tắc cơ bản là thừa thì tiết bớt, thiếu thì bù vào. Trên thực tế, việc chọn dụng thần còn xét khí hậu mùa sinh và các thế hợp, xung giữa các chữ, nên mỗi người xem có thể chọn khác nhau. Trang đơn giản hóa thành "hành bổ trợ": thân vượng thì lấy hành của Thực Thương và Tài, thân nhược thì lấy hành của Ấn và Tỷ Kiếp.

Mệnh

Trong đời sống người Việt, "mệnh" thường chỉ hành nạp âm của năm sinh, như khi nói "tôi mệnh Kim". Mệnh lấy từ can chi năm sinh nên người sinh cùng năm âm lịch có cùng mệnh, và mệnh đổi vào ngày Tết chứ không phải ngày 1 tháng 1. Lưu ý trong Tử Vi, "Mệnh" còn là tên cung Mệnh, hai khái niệm này khác nhau. Trang dùng mệnh nạp âm để tính vận may hôm nay và điểm hợp tuổi.

Nạp âm

Hệ thống chia 60 can chi thành 30 cặp liền nhau, mỗi cặp mang một tên ngũ hành với hình ảnh riêng. Ví dụ Giáp Tý, Ất Sửu là Hải Trung Kim (vàng trong biển), Bính Dần, Đinh Mão là Lư Trung Hỏa (lửa trong lò). Nhờ vậy cùng là mệnh Kim nhưng Hải Trung Kim và Kiếm Phong Kim (vàng mũi kiếm) được luận khác nhau. Ngày cũng có can chi nên cũng có nạp âm, và mỗi ngày trang đều so nạp âm của ngày với mệnh của bạn.

Cục

Khung ngũ hành của lá số Tử Vi, gồm năm loại: Thủy Nhị Cục, Mộc Tam Cục, Kim Tứ Cục, Thổ Ngũ Cục và Hỏa Lục Cục. Cục được tìm từ nạp âm của can chi cung Mệnh, và con số từ 2 đến 6 chính là tuổi bắt đầu đại hạn đầu tiên. Cục cùng với ngày sinh âm lịch còn quyết định vị trí sao Tử Vi. Trên trang, cục được ghi kèm trong phần thông tin lá số.

Lá số Tử Vi

Bản đồ vận mệnh lập từ năm, tháng, ngày, giờ sinh âm lịch và giới tính, gồm 12 ô (12 cung) xếp quanh một khung, mỗi cung ứng với một mặt của cuộc sống. Người sinh cùng ngày nhưng khác giờ hoặc khác giới tính sẽ có lá số khác nhau. Trang chỉ lập lá số khi bạn nhập giờ sinh và giới tính; cung Mệnh có viền đỏ, còn ô đại hạn hiện tại được tô vàng.

Cung và 12 cung

Mỗi ô trên lá số là một cung, gắn cố định với một địa chi. Mười hai cung gồm Mệnh, Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức, Tài Bạch, Tật Ách, Thiên Di, Nô Bộc, Quan Lộc, Điền Trạch, Phúc Đức, Phụ Mẫu, lần lượt nói về bản thân, anh chị em, vợ chồng, con cái, tiền bạc, sức khỏe, hoạt động bên ngoài, bạn bè và cấp dưới, sự nghiệp, nhà cửa, đời sống tinh thần, cha mẹ. Cung nào nằm ở ô nào là do tháng sinh và giờ sinh quyết định. Khi xem một cung, luôn nhìn thêm cung đối diện.

Cung Mệnh

Cung quan trọng nhất, cho thấy tính cách bẩm sinh và hướng đi chính của đời người. Cách an: lấy cung Dần làm tháng Giêng, đếm thuận đến tháng sinh, rồi từ đó coi là giờ Tý, đếm nghịch đến giờ sinh. Chính tinh đóng ở cung Mệnh là chìa khóa để hiểu con người bạn. Phần luận giải trên trang cũng bắt đầu từ chính tinh cung Mệnh.

Cung Thân

Điểm mốc thứ hai được xem cùng cung Mệnh. Cũng khởi từ tháng sinh như cung Mệnh nhưng đếm thuận theo giờ sinh, nên cung Thân luôn trùng với một trong sáu cung Mệnh, Phu Thê, Tài Bạch, Thiên Di, Quan Lộc, Phúc Đức. Người xưa thường nói Mệnh là phần trời cho, còn Thân là nơi mình dồn sức trong đời, nhất là từ trung niên trở đi. Trên lá số của trang, cung Thân được đánh dấu chữ "Thân".

Chính tinh

Mười bốn sao chính của Tử Vi, chia làm hai chòm. Chòm Tử Vi gồm Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh; chòm Thiên Phủ gồm Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân. Khi đã an được sao Tử Vi, các sao còn lại theo khoảng cách cố định mà an vào. Trang an đủ 14 chính tinh và có bài luận giải riêng cho từng sao.

Phụ tinh

Các sao phụ đi kèm chính tinh, làm tăng thêm cái tốt hoặc gây trắc trở. Lá số truyền thống có rất nhiều phụ tinh, nhưng hay được nhắc đến nhất là Tả Phù, Hữu Bật (trợ lực), Văn Xương, Văn Khúc (học hành, văn chương), Lộc Tồn (tiền của), Kình Dương, Đà La (va chạm), Địa Không, Địa Kiếp (hao tổn) và Thiên Mã (di chuyển). Lá số trên trang hiển thị đúng 10 phụ tinh này.

Tứ hóa

Tùy theo can năm sinh, bốn sao sẽ "hóa" thành Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa và Hóa Kỵ. Lộc là tiền tài và cơ hội, Quyền là sức mạnh và thế chủ động, Khoa là danh tiếng và học vấn, còn Kỵ là trở ngại và vướng mắc. Sao nào hóa gì có khác biệt nhỏ giữa các trường phái. Trang theo khẩu quyết phổ biến ở Việt Nam, ví dụ năm Nhâm lấy Thiên Phủ hóa Khoa thay vì Tả Phù như một số phái Trung Quốc.

Vô chính diệu

Cung không có sao nào trong 14 chính tinh. Vì 14 sao chia vào 12 cung và có những sao đóng chung, nên phần lớn lá số đều có vài cung trống chính tinh. Khi cung Mệnh vô chính diệu, người ta mượn chính tinh ở cung đối diện (cung Thiên Di) để luận, và thường cho rằng người này chịu ảnh hưởng lớn từ hoàn cảnh. Trang cũng mượn sao cung đối diện khi cung Mệnh hoặc cung đại hạn vô chính diệu.

Tam phương tứ chính

Bốn cung cần xem cùng nhau khi luận một cung: chính cung đó, cung xung chiếu đối diện, và hai cung tam hợp cách đó bốn ô về mỗi bên. Với cung Mệnh, tam phương tứ chính là Mệnh, Tài Bạch, Quan Lộc và Thiên Di. Nhờ vậy khi xem tính cách, người ta cũng thấy luôn đường tiền bạc và sự nghiệp. Không vội kết luận tốt xấu chỉ qua một cung là thói quen căn bản khi đọc lá số.

Đại hạn

Vận mười năm trên lá số Tử Vi. Đại hạn đầu tiên bắt đầu ở cung Mệnh vào tuổi bằng số cục (ví dụ Kim Tứ Cục là 4 tuổi); dương nam, âm nữ đi thuận, còn âm nam, dương nữ đi nghịch qua các cung tiếp theo. Cung mà đại hạn đi qua sẽ quyết định chủ đề trọng tâm của mười năm đó. Trang tính theo tuổi mụ để tìm đại hạn hiện tại và tô vàng ô đó.

Tiểu hạn

Vận từng năm, chi tiết hơn đại hạn. Cung khởi tiểu hạn phụ thuộc vào nhóm tam hợp của chi năm sinh, sau đó nam đi thuận, nữ đi nghịch, mỗi năm một cung. Nếu đại hạn như thời tiết cả một mùa thì tiểu hạn giống bản dự báo cho từng năm. Lá số trên trang hiện chưa tính tiểu hạn.

Lưu niên

Vận của năm đang xét, thay đổi theo từng năm. Thường lấy cung mang địa chi của năm đó (lưu Thái Tuế) làm trọng tâm, rồi chồng tứ hóa theo can của năm đó (lưu niên tứ hóa) lên lá số gốc. Xem chồng đại hạn, tiểu hạn và lưu niên giúp biết năm nay mặt nào trong đời đang chuyển động. Thay cho lưu niên, trang cung cấp vận may từng ngày.

Miếu, Vượng, Đắc, Bình, Hãm

Cùng một sao nhưng đóng ở địa chi khác nhau thì mạnh yếu khác nhau, có thể hiểu như độ sáng của sao. Sáng nhất là Miếu, rồi đến Vượng, Đắc, Bình, và tối nhất là Hãm. Sao sáng thì phát huy mặt tốt, sao hãm thì vẫn tính chất ấy nhưng thể hiện vụng về hoặc yếu đi. Bảng độ sáng có khác nhau giữa các sách, nên lá số trên trang hiện chưa ghi độ sáng.

Hợp tuổi

Xem hai người có hợp nhau không, thường dùng khi tính chuyện cưới hỏi hay làm ăn. Cách xem truyền thống dựa vào quan hệ địa chi (tam hợp, lục hợp, xung, hại), thiên can hợp hay khắc, và mệnh nạp âm của hai người sinh hay khắc nhau. Điểm hợp tuổi trên trang chỉ dùng năm sinh âm lịch của hai người, tính ba yếu tố này rồi hiển thị trong khoảng 55–99%. Hợp tuổi chỉ để tham khảo, còn mối quan hệ là do hai người cùng vun đắp.

Tam hợp

Ba địa chi cách nhau bốn vị trí hợp thành một hành: Thân Tý Thìn hợp Thủy, Dần Ngọ Tuất hợp Hỏa, Hợi Mão Mùi hợp Mộc, Tỵ Dậu Sửu hợp Kim. Các tuổi cùng nhóm thường cùng chí hướng, cùng nhịp làm việc nên làm chung dễ thành. Trang cộng nhiều điểm nhất cho tam hợp khi xem hợp tuổi, và cũng cộng điểm cho ngày tam hợp với tuổi bạn.

Lục hợp

Sáu cặp địa chi hút nhau: Tý–Sửu, Dần–Hợi, Mão–Tuất, Thìn–Dậu, Tỵ–Thân, Ngọ–Mùi. Nếu tam hợp là "cùng phe" thì lục hợp giống "cạ cứng", đặc biệt được coi trọng khi xem duyên vợ chồng hay đối tác. Trang cộng điểm cho cặp lục hợp khi xem hợp tuổi, và cộng điểm cho ngày lục hợp với tuổi bạn, nhất là phần tình cảm.

Tứ hành xung

Xung là hai địa chi đối diện nhau, cách sáu vị trí: Tý–Ngọ, Sửu–Mùi, Dần–Thân, Mão–Dậu, Thìn–Tuất, Tỵ–Hợi. Người Việt gom thành ba bộ tứ hành xung: Dần Thân Tỵ Hợi, Tý Ngọ Mão Dậu, Thìn Tuất Sửu Mùi. Xung chủ va chạm, biến động, nhưng vì đối nghịch nên đôi khi lại bù trừ cho nhau. Trang trừ nhiều điểm nhất cho cặp xung khi xem hợp tuổi, và nhắc bạn cẩn thận khi đi lại, lời ăn tiếng nói vào ngày xung với tuổi mình.

Lục hại

Sáu cặp địa chi ngăn trở thế lục hợp của nhau: Tý–Mùi, Sửu–Ngọ, Dần–Tỵ, Mão–Thìn, Thân–Hợi, Dậu–Tuất. Hại không va chạm dữ dội như xung mà dễ sinh hiểu lầm vặt, giận hờn tích tụ. Trang trừ điểm cho cặp hại khi xem hợp tuổi, nhưng ít hơn cặp xung.

Phá và Hình

Phá là quan hệ làm hỏng việc của nhau, gồm Tý–Dậu, Ngọ–Mão, Dần–Hợi, Tỵ–Thân, Thìn–Sửu, Tuất–Mùi. Hình là quan hệ gây tổn thương, gồm tam hình Dần Tỵ Thân và Sửu Tuất Mùi, tương hình Tý–Mão, và tự hình khi Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi gặp chính nó. Có những cặp vừa lục hợp vừa phá như Dần–Hợi, Tỵ–Thân, nên đừng kết luận chỉ từ một quan hệ. Điểm hợp tuổi trên trang không tính phá và hình, chỉ dùng tam hợp, lục hợp, xung và hại.

Thái Tuế, năm tuổi

Thái Tuế là vị thần cai quản từng năm, ứng với địa chi của năm đó. Năm có địa chi trùng với tuổi bạn, mười hai năm lại đến một lần, gọi là năm tuổi; dân gian cho rằng năm này nhiều biến động nên cần thận trọng. Năm có địa chi xung với tuổi mình cũng thường bị xem là phạm Thái Tuế. Thay vì lo sợ, hãy hiểu đây là lời nhắc bớt quyết định vội vàng và chú ý hơn đến sức khỏe, giấy tờ.

Nhật thần

Can chi của một ngày. Ngày cũng nối nhau liên tục theo vòng 60 can chi, nên cứ 60 ngày lại lặp lại một nhật thần. Người xưa dựa vào nhật thần để chọn ngày cưới hỏi, động thổ, xuất hành. Vận may hôm nay trên trang xét hành nạp âm của nhật thần so với mệnh của bạn, và địa chi của ngày có tam hợp, lục hợp hay xung với tuổi bạn không.

Đào hoa

Sao của sức hút, duyên ăn nói và chuyện tình cảm, mượn hình ảnh hoa đào. Tuổi Thân Tý Thìn có đào hoa ở Dậu, Dần Ngọ Tuất ở Mão, Tỵ Dậu Sửu ở Ngọ, Hợi Mão Mùi ở Tý. Đào hoa mạnh thì đắt duyên, được nhiều người mến, nhưng cũng dễ vướng chuyện tình cảm. Trang đánh dấu "ngày Đào hoa" khi địa chi của ngày trùng với đào hoa của tuổi bạn và cộng điểm phần tình cảm.

Lộc Tồn

Phụ tinh chủ tiền của và phúc lộc trong Tử Vi, an theo can năm sinh: Giáp ở Dần, Ất ở Mão, Bính và Mậu ở Tỵ, Đinh và Kỷ ở Ngọ, Canh ở Thân, Tân ở Dậu, Nhâm ở Hợi, Quý ở Tý. Ô phía trước luôn có Kình Dương, ô phía sau có Đà La đi kèm. Lộc Tồn nói về tiền tích góp, giữ được, và cùng Hóa Lộc là dấu hiệu tài lộc tốt. Trang hiện Lộc Tồn trên lá số và cộng điểm tài lộc vào ngày có địa chi trùng vị trí Lộc Tồn của bạn.

Dịch mã (Thiên Mã)

Sao của sự di chuyển: đi xa, công tác, chuyển nhà, ra nước ngoài; tên gọi bắt nguồn từ ngựa trạm thời xưa. Trong Tử Vi gọi là Thiên Mã, an theo tuổi: Thân Tý Thìn ở Dần, Dần Ngọ Tuất ở Thân, Tỵ Dậu Sửu ở Hợi, Hợi Mão Mùi ở Tỵ. Người có Mã mạnh thường gặp cơ hội khi dịch chuyển hơn là ngồi yên một chỗ. Trang hiện Thiên Mã trên lá số và cộng điểm công việc vào ngày Dịch mã của bạn.

Xem vận may của tôi ngay →